phỏng vấn
ĐIỆN ẢNH VÀ KÝ ỨC: THƯƠNG NHỚ PETER BOGDANOVICH
Người viết: Mai Thị Tâm Nguyên
Lời của người dịch: Làn Sóng Mới Pháp đã khởi nguồn từ tín đồ điện ảnh và tình yêu với điện ảnh như một đức tin. New Hollywood, như một hậu thân, cũng được khai mào từ cùng nguồn cội: tình yêu phim, và khát vọng vượt thoát sự chuyên chế của xưởng phim để cất lên tiếng nói cá nhân. François Truffaut từng bắt đầu là một tín đồ điện ảnh để rồi trở thành đạo diễn, và trong hành trình cầu đạo đã tái định vị Hitchcock bằng cuốn sách Hitchcock/Truffaut. Peter Bogdanovich, theo một nghĩa nào đó, cũng bước đi trên hành trình ấy. Ông là người lưu giữ ký ức của Old Hollywood bằng những cuộc phỏng vấn với Ford, Hawks, Lang,… rồi đem nỗi hoài niệm ấy vào chính những thước phim của mình.
Trong thế hệ New Hollywood vốn đầy gai góc và bạo liệt với Scorsese, Coppola hay De Palma, Bogdanovich hiện lên mơ mộng, dịu dàng hơn khi hồi sinh Hollywood cổ điển với giọng điệu của thời đại mới. Ông soi chiếu vào một nước Mỹ bên ngoài đô thị lớn, đằm thắm nhưng không hồn nhiên, mà ám ảnh trong cái buồn vi tế, sự hoang tàn và bơ vơ. “Chất Mỹ hoài cổ” vừa là di sản, vừa là cách ông đứng riêng trong thế hệ mình.
Những dòng hồi tưởng dưới đây được viết bởi một người hâm mộ, người bạn vong niên, đã có cơ hội bước vào một góc cuộc đời Peter Bogdanovich, để nhìn ông không chỉ như một đạo diễn, mà một con người trọn vẹn như ông đã từng, mang trong mình nỗi đau, sự mất mát, hoài vọng, tình yêu và lòng trắc ẩn. Thương nhớ, và nhìn về những chất liệu nhân bản làm nên những cổ tích Hollywood Tân kỳ của ông.
______________
THƯƠNG NHỚ PETER BOGDANOVICH
Ngày 11 tháng Một, 2022. Bởi Peter TonguetteVề nhà làm phim quá cố.
Cha tôi qua đời đột ngột vào đầu tháng Giêng mười hai năm trước. Tôi đã nhận được nhiều lời chia buồn và tỏ bày cảm thông, nhưng riêng một mẩu thư là nổi bật.
Đó là từ Peter Bogdanovich. Tôi đã phỏng vấn vị đạo diễn vĩ đại người Mỹ rải rác từ năm 2003, khi tôi mới hai mươi còn ông sáu mươi tư tuổi. Tôi yêu những bộ phim của ông, và ông mến việc tôi yêu chúng. Nhưng khi viết cho tôi về cha, Peter không nói với tư cách một nhà làm phim nổi tiếng, mà chỉ đơn giản như một người có lòng. “Tôi hiểu tất cả những gì cậu đang trải qua và điều đó vô cùng khó khăn”, ông viết. “Tôi đã mất cha theo cách tương tự - chóng vánh và đột ngột. Điều duy nhất tôi nghiệm ra là linh hồn ông sẽ luôn ở bên cậu. Vấn đề là phải đạt đến cảnh giới đó và buông bỏ sự mất mát thể xác đau đớn cùng cực.”
Tôi từng được nâng đỡ bởi những thước phim của ông - The Last Picture Show, Paper Moon, Daisy Miller, và nhiều tác phẩm khác - và giờ đây, tôi lại được tiếp sức bởi lời ông nói. Ông bộc bạch rằng ông đã từng ở trong hoàn cảnh của tôi, và rằng chuyện rồi sẽ ổn. Có lẽ tôi sẽ không tin những lời tâm sự này nếu chúng phát ra từ miệng một người khác, nhưng tôi tin chúng khi đến từ ông - một người mà tôi từ lâu đã xác tín, là một nghệ sĩ vĩ đại và thấu cảm. Gần đúng mười hai năm sau ngày cha tôi ra đi, chính con người đã trao cho tôi lòng trắc ẩn hiếm có ấy, đã qua đời vào mùng 6 tháng Giêng, ở tuổi tám mươi hai.
Trong những năm tháng giữa sự ra đi của cha tôi và Peter, tôi đã hiểu về ông hơn nhiều. Chúng tôi đã thực hiện vô số cuộc phỏng vấn cho cuốn sách của mình, Picturing Peter Bogdanovich: My Conversations with the New Hollywood Director (tạm dịch: Khắc họa Peter Bogdanovich: Những cuộc trò chuyện của tôi với vị đạo diễn New Hollywood), và chúng tôi dần dà trở nên thoải mái với nhau. Lâu trước khi đặt cho ông câu hỏi đầu tiên, tôi đã là một người trò đối trước sự nghiệp ông. Và chúng tôi cùng mang một tình yêu dành cho những bộ phim kinh điển, mang niềm tôn kính dành cho những con người đã làm ra chúng, và dĩ nhiên, cùng mang một cái tên.
Điều sau cùng ấy là một trong những tình cờ may mắn của cuộc đời tôi—một sự ngẫu nhiên, bằng cách nào đó, đã dẫn tôi đến với ông. Dĩ nhiên, cha mẹ tôi chẳng nghĩ đến Peter Bogdanovich khi đặt tên cho tôi, và cũng chẳng có gì hiển nhiên rằng tôi sẽ đắm mình trong điện ảnh thay vì, chẳng hạn, âm nhạc cổ điển hay thám hiểm hang động. Nhưng, bởi lẽ tôi mang tên “Peter”, và bởi tôi đã xem phim những bộ phim kinh điển trong mê man từ thuở niên thiếu, làm sao tôi có thể không để ý đến một đạo diễn cũng tên Peter, người từng là một kẻ mê phim như chính tôi?
Điều ngược lại hẳn cũng đúng: Peter hẳn không thể ngờ rằng ngày nọ ông sẽ tình cờ gặp một nhà phê bình điện ảnh trẻ tuổi khác cũng tên Peter, người ở vào độ tuổi gần như bằng ông khi bắt đầu phỏng vấn Ford, Hawks và Lang, lại sẽ liên tục chất vấn ông bằng những câu hỏi đầy ngợi ca về sự nghiệp, nhưng khi chuyện đó xảy ra, làm sao ông có thể không vui thú trước sự tình? Lời khen tuyệt vời nhất mà ông từng dành cho tôi là khi ông nói, về một kỹ thuật phỏng vấn nào đó của tôi, “Cậu làm tôi nhớ đến chính mình”. Lần cuối cùng tôi nói chuyện với ông, ông bảo rằng cuốn sách của tôi “vẫn đỡ hơn ăn một cú đá vào đầu”.
Chúng tôi chuyện trò liên tục và gần như thường xuyên gửi e-mail. Có lần, ông gợi ý đặt nhan đề cho cuốn sách đang viết dở của chúng tôi là “Dear Peter/Dear Peter”, bởi, suốt một thời gian dài, đó là cách xưng hô nửa nghi thức nửa đùa mà cả hai dùng với nhau trong thư từ. Một lần khác, tôi gọi ông để phỏng vấn, nhưng trước khi tôi kịp ghi âm cuộc trò chuyện, ông đã kể một câu chuyện vô cùng đặc sắc - một câu chuyện mà tôi mong muốn đưa vào sách để lưu truyền cho hậu thế. Tôi nài nỉ ông kể lại để ghi âm, nhưng ông đã khéo léo chối từ. Kể lại lần hai thì toàn bộ tinh tuý trong đó sẽ bay biến.
Chúng tôi đã có một mối quan hệ như vậy – tự nhiên và bình dị, nhưng luôn ân cần và trân quý. Lễ Tạ ơn đầu tiên sau khi cha tôi qua đời, Peter nói với tôi rằng những ngày lễ luôn trở nên khó khăn sau một mất mát, nhưng, như ông diễn tả, “hãy cố biết ơn những gì đang có, và những gì đã từng”. Nhiều năm sau, ông nói rằng, dẫu năm thứ năm sau một mất mát có khi mới là khó khăn nhất trong trải nghiệm của ông, song ông tin chắc rằng linh hồn cha tôi vẫn luôn hiện diện bên tôi và gia đình.
Peter kiên định trong xác tín, rằng linh hồn vẫn tồn tại sau cái chết. Niềm tin đó hẳn nhiên bắt nguồn từ những mất mát trong chính cuộc đời ông, đặc biệt là cái chết của Dorothy Stratten vào năm 1980, nàng người mẫu kiêm diễn viên mà ông đã đem lòng yêu và chọn đóng trong bộ phim They All Laughed. Cô đã bị sát hại bởi gã chồng đã ly thân, Paul Snider.
Bi kịch ấy đã thúc đẩy Peter bước vào một giai đoạn phản tỉnh và học hỏi, không khác mấy so với cách Robert F. Kennedy từng đắm mình trong những trước tác của người Hy Lạp cổ đại sau vụ ám sát anh trai mình. Peter trở thành một chuyên gia về nguồn gốc mẫu hệ của nền văn minh mà Robert Graves từng mô tả. Ông từng dự định dựng phim từ các tiểu thuyết của Graves như Watch the North Wind Rise, Wife to Mr. Milton và The Golden Fleece, và có lần ông kể với tôi rằng ông từng thoáng nghĩ đến việc hợp tác cùng Chuck Jones trong một phiên bản hoạt hình “ngữ pháp lịch sử của huyền thoại thi ca” của Graves, tác phẩm The White Goddess. Ông cũng lồng ghép trong các bộ phim thời kỳ chín muồi của mình, những phúng dụ, gần như không thể nào nhận ra, về nàng Dorothy: một ca khúc ông đồng sáng tác cho nàng chỉ vang lên thoáng chốc trên radio xe hơi trong Texasville, và trong She’s Funny That Way, hai nhân vật bàn về ý nghĩa của kỳ lân, sinh vật mà Peter từng so sánh với Dorothy.
Nghe tưởng như hàn lâm, nhưng mối quan hệ của tôi với Peter thì hoàn toàn không phải vậy. Tôi chưa bao giờ xem ông như một hình tượng người cha, mà dần coi ông như một người bạn vong niên. Ông thỉnh thoảng lại gọi tôi như vậy: Cậu là một tay viết giỏi đấy, chú em. Cảm ơn nhiều nhé, chú em. Ông thật ấm áp, hay cười, hay đùa, và am hiểu mọi nẻo đường của Hollywood.
Đại dịch mang đến một hệ quả tích cực cho đời tôi. Peter hầu như có nhà. Chỉ cần tôi gọi muộn hơn giờ làm một chút, là ông thường sẽ nhấc máy. Có lẽ vì cả hai đều nhận ra năm tháng đang trôi đi, mỗi người chúng tôi đều gọi điện thường xuyên hơn trước. Trong cuốn sách của mình về John Ford, Bogdanovich đã hồi tưởng lại lần cuối Howard Hawks gặp Ford khi ông đang hấp hối, “Ý tôi là thật sự vĩnh biệt,” Ford trăng trối. “Thật sự vĩnh biệt sao, Jack?” Hawks hỏi lại. “Thật sự vĩnh biệt.” Dẫu tôi chưa bao giờ có cảm niệm hay linh tính rằng mình đang có một cuộc trò chuyện giống vậy với Peter, song tôi đã, trong những tháng cuối cùng, cố gắng nói ra, dù ngụ ý hay rõ ràng, tất cả những điều tôi muốn nói với ông.
Chúng tôi nói chuyện lần cuối hai ngày trước Giáng sinh—một cuộc điện thoại phấn chấn và vui vẻ lạ thường. Chúng tôi đã bàn về đủ thứ, từ George và Ira Gershwin (ông đang dự định làm phim về họ) cho đến Ernst Lubitsch (người làm phim mà cả ông và tôi đều ái mộ). Chúng tôi đồng ý rằng thiên hạ đang tuyệt vọng cần một trận cười. Peter tin rằng thế giới đã sẵn sàng cho một bộ phim hài từ Bogdanovich.
Phấn chấn từ cuộc trò chuyện ấy, ngày hôm sau tôi đã xem bộ phim hài kịch Holiday của George Cukor, với Cary Grant và Katharine Hepburn trong vai một cặp đôi ngang tàng bất tuân khuôn phép. Tôi đã khám phá ra bộ phim này nhiều năm trước, nhờ lời giới thiệu nhiệt thành của Peter. “Sau khi phim hết, đi bộ về nhà trên những con phố tối tăm ở Manhattan, lòng tôi rộn ràng, hân hoan hơn bao giờ hết, tin tưởng vào muôn vàn khả thể của cuộc đời”, ông hồi tưởng lần đầu xem phim khi mới mười sáu tuổi trong cuốn sách Who the Devil Made It của mình. Khi bộ phim khép lại, tôi lại nghĩ về chàng trai trẻ năm xưa mà bộ phim đã để lại ấn tượng sâu sắc, và tôi tự nhủ phải nhắc lại với ông trong lần tới nói chuyện. Tôi cũng định kể cho ông rằng một cuốn sách do tôi biên tập, Peter Bogdanovich: Interviews, đang được dịch sang tiếng Serbia.
Nhưng đã chẳng có lần sau nữa. Giá như tôi đã bấm số gọi cho ông vào ngày 31 tháng Mười Hai. Hoặc ngày mùng 1 tháng Giêng. Hoặc ngày mùng 3. Ông hẳn đã nhấc máy.
Từ sau cái chết của cha tôi, chưa có sự ra đi nào chấn động tôi mạnh mẽ đến thế. Tôi vẫn thường sững lại khi trong ngày bỗng chợt nhận ra rằng Peter đã đi rồi—rằng sẽ chẳng còn những cuộc trò chuyện, chẳng còn những lời nhắn trên máy, chẳng còn những cuộc gọi nhỡ, chẳng còn những lời đầu thư “Peters thân mến”, chẳng còn bộ phim nào mới ra nữa. Bạn bè dường như đã lường trước phản ứng của tôi; tôi nhận tin nhắn từ cả những người quen cũ xa xưa. Nhiều người bảo rằng họ “chia buồn với nỗi mất mát của tôi”, hoặc những lời tương tự. Nhưng dĩ nhiên, đó nào phải mất mát của riêng tôi. Đó là mất mát của gia đình Peter: chị gái ông, Anna; hai con gái ông, Antonia và Sashy; người vợ tận hiến của ông, Louise.
Có sai không khi tôi cảm thấy trống vắng đến thế vì một người, xét trên hầu hết mọi phương diện có thể đo lường được, lại quá xa vời với đời sống thường nhật của tôi? Tôi không nghĩ vậy. Là thành viên của loài người, chúng ta không ngừng tìm kiếm những điểm giao với nhau, cho dù những điểm giao đó đôi khi thật hy hữu hoặc xa vời. Tôi coi Peter là một trong những người quan trọng nhất trong cuộc đời - một người mà sự thấu cảm, lòng trắc ẩn và tình thương đồng loại đã lan toả đến tôi, khán giả trung thành và người bạn hàm ơn nhất của ông.
Tôi sẽ mãi nhớ cách Peter trả lời điện thoại - “Yeah?” Và cách ông viết chữ f chỉ bằng một nét, như khi ông đề tặng một cuốn sách, “For Peter” (Dành cho Peter). Trên hết, tôi trân trọng cách ông đã rộng lượng cho phép một người hâm mộ bước vào cuộc đời mình. Vài ngày qua, tôi đã nghĩ nhiều đến những ví dụ tuyệt vời về những con người bình thường chạm đến các vĩ nhân: một Stephen Sondheim trẻ tuổi được Oscar Hammerstein II dìu dắt, hay Joy Davidman thư từ cùng C. S. Lewis. Peter là vĩ nhân với tôi, và tôi không mong có thêm một ai khác như vậy nữa.


Ủng hộ All About Movies
Đóng góp cho các tay viết của AMO
hàng tháng
chỉ từ 10K VNĐ