phỏng vấn

NHỮNG ÁM ẢNH THÂN THUỘC

Người viết: Kopfkino

img of NHỮNG ÁM ẢNH THÂN THUỘC

(Bài phỏng vấn nhà làm phim Lê Ngọc Duy trên trang Talking Shorts)

Lấy bối cảnh tại Đà Nẵng, tác phẩm được đề cử giải Queer Palm Before the Sea Forgets của Lê Ngọc Duy xoay quanh một cặp đôi du khách đồng tính phải đối mặt với những dư âm bạo liệt của lịch sử. Trong cuộc phỏng vấn này, Duy thảo luận về sự giao thoa giữa tính queer và sự kháng cự, cũng như tầm quan trọng của việc khôi phục sự thật về di sản miền Trung Việt Nam của anh.

Trong nhiều năm, Lê Ngọc Duy luôn khao khát trở thành một nhà làm phim. Mặc dù anh từng cân nhắc việc thi vào đại học để học đạo diễn, nhưng chỉ khi một người bạn khuyến khích anh đăng ký tham gia Doc Cicada, một workshop phim tài liệu tại Hà Nội vào năm 2020, tương lai sáng tạo của anh mới thực sự nở rộ. “Đó là nơi tôi gặp người yêu đầu tiên, cũng là người thầy của tôi”, anh cười. Trong quá trình phát triển một bộ phim tài liệu thể nghiệm tại workshop, đời sống cá nhân của anh và những khả năng về việc điện ảnh có thể là gì đã mở ra trước mắt anh, vượt xa những gì anh từng thấy trên HBO, Star Movies và truyền hình.

Kể từ đó, Duy đã trở thành một trong những tiếng nói khác biệt nhất của Việt Nam, một phần được định hình bởi công việc của anh với tư cách là nhà giám tuyển cho các sáng kiến chiếu phim cơ sở như A Sông Collective và Con Nhà Nghèo Cinema. Mối quan tâm của anh trong việc pha trộn giữa tình yêu đồng giới và sự tra vấn lịch sử đã hội tụ lại 5 năm sau đó trong Before the Sea Forgets, bộ phim ngắn mà anh đã công chiếu tại hạng mục Tuần lễ Đạo diễn (Director’s Fortnight) của Liên hoan phim Cannes 2025. Lấy bối cảnh tại bán đảo Sơn Trà ở miền Trung Việt Nam, phim ngắn này theo chân một cặp đôi du khách đồng tính đi tìm ngôi mộ của một người lính Việt Nam đã bị lãng quên.

Khi họ băng qua những cảnh biển tuyệt đẹp, những khu rừng rậm rạp và các tòa nhà bỏ hoang, cả hai thảo luận về ký ức thời chiến của cha mình trong khi những người trượt ván trẻ tuổi phá vỡ sự tĩnh lặng bằng các trick trượt ván của họ. Thông qua chất thơ nghe nhìn của bộ phim, những đường nét của sự xóa bỏ về văn hóa xã hội và lịch sử chính trị đối với lịch sử Việt Nam dần lộ diện, và sự chia cắt giữa cũng như xuyên suốt các thế hệ trở nên rõ ràng hơn. Ra mắt đúng dịp kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước, bộ phim vẽ nên những điểm tương đồng giữa các mối quan hệ của những người lính, những người trượt ván và các cặp đôi đồng giới, từ đó đặt ra những câu hỏi về mối quan hệ phức tạp của đất nước với tình đồng chí, lòng yêu nước và lịch sử “chính thống”.

Trong cuộc trò chuyện của chúng tôi trước thềm Festival du Nouveau Cinéma ở Montréal, nơi Before the Sea Forgets dự kiến tranh giải ở hạng mục phim ngắn, Duy đã chia sẻ về quá trình lớn lên ở miền Trung Việt Nam, các thế lực chính trị đã định hình nên tình yêu điện ảnh và quá trình trưởng thành của anh, cũng như cách điện ảnh độc lập Việt Nam tồn tại bên lề khi thiếu vắng sự hỗ trợ của nhà nước và giữa bối cảnh bị kiểm duyệt liên tục, gay gắt.


Quá trình trưởng thành ở Đà Nẵng của anh diễn ra như thế nào?

Duy Lê (DL): Đó là tiền đề của mọi thứ đối với tôi. Hầu hết cảm hứng của tôi đều đến từ quê hương, và tôi yêu phong cảnh nơi đây. Khi tôi nghĩ về việc nên mô tả và khắc họa điều gì trong phim của mình, những gì hiện ra trong tâm trí tôi theo bản năng là sự pha trộn của những điều sau: giọng nói của người dân quê tôi, bán đảo ở Đà Nẵng và bãi biển. Nó đến với tôi một cách tự nhiên. Vì Đà Nẵng nằm ở miền Trung Việt Nam, tôi quan tâm đến phương ngữ và giọng vùng miền, vốn chưa được đại diện đầy đủ trong điện ảnh Việt Nam. Hầu hết các phim tuyên truyền từ những năm 80 và 90 đều do người Bắc làm và mang giọng Bắc. Ngày nay, vì ngành công nghiệp điện ảnh tập trung ở miền Nam, nên có rất ít dấu vết của các phương ngữ miền Trung trên màn ảnh.

Tôi không biết nhiều về lịch sử của vùng này cho đến vài năm trước. Gần đây, tôi phát hiện ra một cuốn sổ tay thuộc về người bạn quá cố của cha tôi trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam giữa Việt Nam và Campuchia, và tôi đã tìm hiểu thêm về lịch sử gia đình mình cũng như lịch sử của vùng này với tư cách là một vùng đệm. Sau thời kỳ thực dân Pháp (giữa thế kỷ 20), Hoa Kỳ đã đầu tư mạnh vào khu vực này để xây dựng căn cứ quân sự lớn thứ hai ở miền Nam đất nước. Sau Hiệp định Genève năm 1954, nơi này chỉ cách biên giới giữa miền Bắc và miền Nam hai thành phố. Đây cũng là nơi đầu tiên thực dân Pháp đặt chân đến để cai trị cả nước. Vùng đất này mang rất nhiều sức nặng lịch sử.

Bộ phim này bắt đầu từ đâu?

DL: Tôi viết bản thảo đầu tiên vào tháng 5 năm 2024. Sau đó, tôi làm một bộ phim thể loại hybrid documentary tập trung vào cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam giữa Việt Nam và Campuchia tại workshop ‘New Asian Filmmakers’ Collective Filmmaking’. Nhưng vào thời điểm đó, tôi có rất ít thời gian để thực hiện, nên tôi không có cơ hội ghi âm lại lời kể của cha tôi và đào sâu hơn vào các tài liệu lưu trữ của gia đình. Đó là những cuộc chạm trán ngắn ngủi đầu tiên với các tư liệu và trí tưởng tượng lóe lên trong tôi về những bộ phim sẽ hình thành. Khi trở lại Việt Nam, có điều gì đó cứ vương vấn trong lòng tôi, nên tôi bắt đầu viết kịch bản cho một phim ngắn hư cấu, một phần dựa trên câu chuyện đó.

Tựa đề ban đầu là The Tomb of My Heart, đúng không?

DL: Ban đầu là Epitaph for my Heart… Khoan đã. Sao bạn biết điều đó? Tôi đã kể cho bạn à?

Tôi tìm thấy ảnh trên mạng.

Ồ. [cười] Lẽ ra nó phải là Epitaph for my Heart thay vì Before the Sea Forgets, với một tên tiếng Việt đi kèm nữa. Bạn hiểu tại sao nó được đặt tên là Epitaph for my Heart chứ?

Tôi hiểu. [cười] Quay lại nguồn gốc của bộ phim…

DL: Cảm hứng ban đầu đến từ câu chuyện này, câu chuyện về cha tôi và người bạn quá cố của ông từng chiến đấu trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Nhưng nó cũng một phần được lấy cảm hứng từ chính những trải nghiệm yêu đương của tôi, đặc biệt là các yếu tố queer trong phim, đó là tôi… Tôi đã cố gắng kết hợp hai mạch này, lịch sử và gia đình, nhưng theo một cách mang tính biểu tượng. Mặc dù phim ngắn không nói rõ ràng về cuộc chiến trong quá khứ, tôi muốn đưa vào đó ý niệm rằng thành phố này đã và đang là một nơi mang tính biểu tượng. Ngoài ra, tôi cũng bị ám ảnh bởi cái chết của một người lính và một tình yêu buồn, đầy bi kịch.

Một trong những hình ảnh ấn tượng nhất trong Before the Sea Forgets biến những người trượt ván thành những hoạt cảnh của những người lính nằm trên nền đất của một biệt thự bỏ hoang. Hành động tái hiện đó đóng vai trò như thế nào trong cách bạn khám phá ký ức, sự thể hiện tính queer và di sản miền Trung Việt Nam? Những mối quan tâm đó đến từ đâu, và làm thế nào bạn đi đến hình ảnh đó?

DL: Phân cảnh đó không thực sự nói về thế hệ cũ đối đầu với thế hệ trẻ. Những người trượt ván giống như sự tái sinh của những người lính đó trong xã hội ngày nay hơn. Họ chỉ không mặc quân phục nữa, nhưng họ vẫn hành động như những người lính. Theo một cách nào đó, họ cũng đã “chết”, giống như những người lính trong quá khứ. Họ không trang nghiêm hay ngay thẳng. Họ có sự biểu đạt, âm nhạc, phong cách và cách cư xử riêng. Ở một khía cạnh nào đó, họ là những người cha của xã hội đương đại. Cá nhân tôi khá nổi loạn đối với nhiều điều đang diễn ra trong xã hội chúng ta. Bộ phim và những hình ảnh này là một sự biểu đạt tinh tế của tính nổi loạn chống lại quan điểm của nhà nước về lịch sử, về mọi thứ.

Bạn đã chọn âm nhạc trong phim như thế nào?

DL: Tôi luôn cảm thấy bộ phim nên bắt đầu bằng một bản tình ca; rằng âm nhạc nên vượt thời gian, giống như cách một tiếng huýt sáo hay một giai điệu đơn giản vẫn làm. Lời thoại của các nhân vật cũng thích ứng với điều đó. Khi âm nhạc được nhắc lại một lần nữa trong phim như một loại kỷ vật thời chiến, nó trở nên rõ ràng hơn đối với tôi. Ý định của tôi không chỉ là chèn vào một giai điệu ngẫu nhiên, mà là tạo ra một bài hát của tình cảm dành tặng cho người mà bạn trân trọng. Những người lính trong quá khứ không có nhiều phương tiện giải trí. Có lẽ họ có một cây đàn guitar để chơi. Những người có tài năng nghệ thuật sẽ nghĩ ra một giai điệu ngẫu nhiên nào đó dễ nhớ. Tôi giữ nguyên ý tưởng đó cho việc này.

Đối với những người trượt ván, những người sống trong hiện tại, họ có âm nhạc riêng của mình. Việc họ cũng nên có lời bài hát riêng là điều hợp lý. Tôi đã cố gắng làm cho nó có ý nghĩa, giống như lời bài hát lấp đầy khoảng trống của bài hát trong quá khứ.

Bộ phim có sử dụng một đoạn trích từ truyện vừa Khuôn mặt của Thanh Tâm Tuyền, khắc họa cuộc gặp gỡ trên một con đường tối tăm, hoang vắng tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 giữa hai tâm hồn lạc lõng: một cô gái trẻ di cư vào Nam sau biến động năm 1954 ở miền Bắc, luôn bị ám ảnh bởi ký ức về người yêu tại Hà Nội, và một kẻ lạ mặt bám theo cô trong trạng thái tinh thần quằn quại, cảm thấy như thể những “cú búa bổ” nặng nề đang liên tục giáng xuống đầu mình. Đoạn trích này được đọc cho chúng ta nghe bởi chàng trai trẻ (Trần Thế Mạnh) khi máy quay lia qua bãi biển, như thể nó đang tìm kiếm người tình lớn tuổi giữa biển du khách đang dần chiếm lĩnh hòn đảo. Bạn có thể cung cấp cho chúng tôi một số bối cảnh, đặc biệt là cho những người không quen thuộc với tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền không?

DL: Ông được biết đến nhiều hơn với tư cách là một nhà thơ - một trong những nhà thơ tiên phong nhất ở miền Nam Việt Nam. Ông vốn là người Bắc, lớn lên ở Hà Nội, nhưng vào năm 1954, ông di cư vào Nam do cuộc Cải cách Ruộng đất, khi chế độ thảm sát nhiều gia đình tiểu tư sản từng tiếp tế lương thực cho các chiến sĩ cách mạng chống Pháp. Đoạn trích từ Khuôn mặt được sử dụng trong phim kể lại cách một chàng trai mượn các đường nét từ những khuôn mặt khác để nhớ về người yêu của mình. Sau năm 1975, tất cả các tài sản trí tuệ được tạo ra và lưu hành bởi các nhân vật miền Nam Việt Nam đều bị tiêu hủy và xóa bỏ bởi miền Bắc. Họ không công nhận những tác phẩm này và vẫn cấm chúng ngay cả bây giờ. Tôi chỉ có thể tiếp cận các tiểu thuyết và thơ ca vì các nhà thơ Việt Nam khác đã đăng chúng lên mạng.

Công ty sản xuất Singapore 13 Little Pictures đã tham gia như thế nào?

DL: Tôi đã gặp Looi Wan Ping, một trong những nhà đồng sáng lập của 13 Little Pictures và công ty riêng của anh ấy là WBSB Films, tại xưởng phim ở Campuchia. Anh ấy là người đầu tiên tôi mời tham gia khi dự án chỉ mới là bản thảo, ban đầu với tư cách là nhà sản xuất, sau đó là đạo diễn hình ảnh.

Với tư cách là một công ty, 13 Little Pictures và WBSB tham gia nhiều hơn về mặt sáng tạo. Wan Ping và tôi đã thảo luận về quay phim, câu chuyện, mọi thứ. Không nhất thiết là về vấn đề tài trợ. Về mặt sản xuất, mọi thứ trong ngành này thường gợi ý rằng các nhà sản xuất nên tham gia nhiều hơn vào việc đảm bảo kinh phí cho bộ phim. Nhà sản xuất chính là CJ ở Việt Nam, nhưng bây giờ, đó là một sản phẩm của Singapore. Vai trò của Wan Ping và vai trò của nhà sản xuất Việt Nam là Minh hiện khá ngang bằng nhau. 13 Little Pictures đã giúp tôi rất nhiều về tư cách pháp lý của bộ phim và quá trình sáng tạo. Các nhà sản xuất Việt Nam tham gia nhiều hơn vào việc sản xuất hiện trường, hậu cần và mọi thứ tại đây để thực hiện bộ phim.

Câu chuyện lấy bối cảnh ở Việt Nam, và có sự tham gia của hầu hết diễn viên và đoàn làm phim người Việt, nhưng nó lại được coi là một sản phẩm của Singapore. Quy trình xin cấp quyền chiếu phim tại Việt Nam như thế nào? Và tại sao nó không còn được liệt kê là một sản phẩm của Việt Nam nữa?

DL: Tương tự như các quốc gia khác, chúng tôi phải nộp đơn xin phân loại độ tuổi và phê duyệt kiểm duyệt trước. Phim của tôi bị cấm 100%. Theo luật, tất cả các phim, dù là phim ngắn hay phim dài, đều phải được nộp để phê duyệt trước khi chiếu tại Việt Nam hoặc trước khi gửi đến các liên hoan phim. Chúng tôi biết họ sẽ yêu cầu cắt phim nếu nó không quá nhạy cảm. Nếu nhạy cảm hơn, bạn hoặc phải cắt toàn bộ hoặc bị cấm hoàn toàn. Trong các trường hợp khác, hợp tác sản xuất quốc tế là một phương tiện để “thuộc về” một nơi nào đó khi Việt Nam không chấp nhận tác phẩm. Vị (Taste) chủ yếu thuộc về Singapore, và Trong lòng đất (Viet and Nam) chủ yếu thuộc về Philippines.

Bộ phim cố gắng trao trả ký ức văn hóa cho khán giả Việt Nam, nhưng lại không được phép chiếu tại Việt Nam. Liệu sự kiểm duyệt có cảm giác như là một phần của sự xóa bỏ lớn hơn không?

DL: Câu này khó trả lời quá.

Xin lỗi. Tôi có đang gây rắc rối cho bạn không?

DL: Không, tôi thích câu hỏi này. Đối với các nhà làm phim độc lập Việt Nam, việc bị kiểm duyệt gần như đã trở thành một điều hiển nhiên. Để không thỏa hiệp trong quá trình làm phim, bạn phải chấp nhận rằng phim của mình sẽ chiếu ở nơi khác. Nó giống như một di sản mà chúng tôi đã quen thuộc. Một số người làm hai phiên bản của cùng một bộ phim, một bản “chính thức” để trình cơ quan kiểm duyệt và một bản khác cho các liên hoan phim quốc tế.

Nhưng ngay cả khi phim của chúng tôi được phép chiếu trong nước, chúng tôi cũng không nhận được sự công nhận từ nhà nước theo cách mà các nhà làm phim thương mại hay tuyên truyền nhận được. Không có nguồn tài trợ quốc gia nào, vì vậy chúng tôi phải dựa rất nhiều vào trường quốc tế cho việc đó. Ngay cả đối với các cuộc phỏng vấn và thông cáo báo chí. Khi tôi tưởng tượng việc chiếu phim của mình trong nước, tôi luôn nghĩ về nó như một buổi chiếu phim độc lập ở quy mô nhỏ hơn. Đó là cách các nhà làm phim độc lập ở các thế hệ trước đã chiếu phim của họ để tiếp cận khán giả. Không phải trong các rạp chiếu phim “chính thống”.

Quyết định áp dụng một định dạng mang tính thể nghiệm hơn cũng được thúc đẩy bởi những hạn chế về kinh phí. Tôi không nghĩ mình đủ can đảm để làm nó theo hướng thể nghiệm ngay từ đầu. Khi tôi nghĩ về kịch bản phim, tôi nghĩ về nó như một câu chuyện kể. Nhưng do thiếu tiền và các hỗ trợ khác, chúng tôi phải thực hiện nó theo một cách khác. Tôi nghĩ ra một cách tiếp cận khác để làm phim dựa trên những gì tôi muốn kể. Chúng tôi đối mặt với các giới hạn, nhưng tìm cách để vượt qua chúng.

Bài phỏng vấn được đăng trên Talking Shorts Người thực hiện: Jason Tan Liwag

Chuyển ngữ: kopfkino (Quốc Trần)


Ủng hộ All About Movies

Đóng góp cho các tay viết của AMO
hàng tháng chỉ từ 10K VNĐ

amo