danh sách
DANH SÁCH PHIM QUAN TRỌNG DO VATICAN BẦU CHỌN
Người viết: Nguyễn Phan Thái Vũ
Vào ngày 17 tháng 3 năm 1995, gần đúng 10 năm trước khi qua đời, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phát biểu trước phiên họp toàn thể của Ủy ban Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội. Ủy ban này đang kỷ niệm một sự kiện đặc biệt quan trọng với nhân loại nói chung và với cá nhân Đức Thánh Cha nói riêng, đó là kỷ niệm 100 năm sự ra đời của Điện ảnh. Cột mốc này quan trọng đối với họ vì nó đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử nghệ thuật và vai trò của điện ảnh trong xã hội, đồng thời, nó cũng quan trọng đối với Đức Giáo hoàng vì ngài nhận ra ảnh hưởng của điện ảnh đối với văn hóa và sức mạnh của việc kể chuyện trong việc truyền cảm hứng, giáo dục và truyền bá đức tin là không thể đo đếm.
“Ngay từ khi khán giả công chúng đầu tiên tại Paris được xem những hình ảnh chuyển động do Anh em Lumière trình chiếu vào tháng 12 năm 1895,” ngài nói, “ngành công nghiệp điện ảnh đã trở thành một phương tiện phổ quát, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thái độ và lựa chọn của con người, đồng thời sở hữu khả năng đáng kinh ngạc trong việc tác động đến dư luận và văn hóa vượt qua mọi ranh giới xã hội và chính trị.”
Những nhận định của Đức Giáo hoàng vừa hướng tới tương lai - khi ông nói về tiềm năng của điện ảnh trong việc trở thành “một yếu tố ngày càng tích cực trong sự phát triển của từng cá nhân và là động lực đánh thức lương tâm của toàn xã hội” - lại vừa mang tính kế thừa và nhìn lại lịch sử, khi ông đánh giá cao những đóng góp đáng trân trọng của “nhiều tác phẩm giá trị trong suốt một thế kỷ tồn tại của điện ảnh.”
Do đó, một danh sách gồm 45 bộ phim, về sau được biết đến với tên gọi Danh sách Phim của Vatican được thực hiện bởi một hội đồng gồm 12 học giả điện ảnh quốc tế, do chính tay Tổng giám mục John Foley chỉ định. Danh sách được chia ra thành ba hạng mục là Religion (Tôn giáo), Values (Giá trị nhân văn) và Art (Nghệ thuật), mỗi hàng mục 15 phim. Danh sách này không nhằm thiết lập một bảng xếp hạng mang tính so đo cao thấp, cũng không phải vì mục đích giáo huấn. Chính Tổng giám mục Foley cũng nhấn mạnh rằng danh sách này không sinh ra để “phong thánh” cho các bộ phim, đồng thời ủy ban ấy cũng thừa nhận là không thể liệt kê hết những tuyệt tác xứng đáng vào một danh sách chỉ 45 phim như vậy được. Dưới đây là danh sách ấy:
I. PHIM TÔN GIÁO QUAN TRỌNG
- Andrei Rublev (Andrei Tarkovsky, 1969) 🇷🇺
- The Mission (Roland Joffé, 1986) 🇬🇧
- The Passion of Joan of Arc (Carl Theodor Dreyer, 1928) 🇫🇷
- La Vie et la Passion de Jésus Christ (Ferdinand Zecca & Lucien Nonguet, 1905) 🇫🇷
- The Flowers of St. Francis (Roberto Rossellini, 1950) 🇮🇹
- The Gospel According to St. Matthew (Pier Paolo Pasolini, 1964) 🇫🇷 🇮🇹
- Thérèse (Alain Cavalier, 1986) 🇫🇷
- Ordet (Carl Theodor Dreyer, 1955) 🇩🇰
- The Sacrifice (Andrei Tarkovsky, 1986) 🇸🇪 🇬🇧 🇫🇷
- Francesco (Liliana Cavani, 1989) 🇮🇹 🇩🇪
- Ben-Hur (William Wyler, 1959) 🇺🇸
- Babette’s Feast (Gabriel Axel, 1987) 🇩🇰
- Nazarín (Luis Buñuel, 1958) 🇲🇽
- Monsieur Vincent (Maurice Cloche, 1947) 🇫🇷
- A Man for All Seasons (Fred Zinnemann, 1966) 🇬🇧
II. PHIM GIÁ TRỊ NHÂN VĂN QUAN TRỌNG
- Gandhi (Richard Attenborough, 1982) 🇬🇧 🇺🇸 🇮🇳
- Intolerance (D. W. Griffith, 1916) 🇺🇸
- Dekalog (Krzysztof Kieślowski, 1987) 🇵🇱
- Au Revoir les Enfants (Louis Malle, 1987) 🇫🇷
- Dersu Uzala (Akira Kurosawa, 1974) 🇯🇵
- The Tree of Wooden Clogs (Ermanno Olmi, 1978) 🇮🇹 🇫🇷
- Rome, Open City (Roberto Rossellini, 1946) 🇮🇹
- Wild Strawberries (Ingmar Bergman, 1957) 🇸🇪
- The Seventh Seal (Ingmar Bergman, 1957) 🇸🇪
- Chariots of Fire (Hugh Hudson, 1981) 🇬🇧
- Bicycle Thieves (Vittorio De Sica, 1948) 🇮🇹
- It’s a Wonderful Life (Frank Capra, 1946) 🇺🇸
- Schindler’s List (Steven Spielberg, 1993) 🇺🇸
- On the Waterfront (Elia Kazan, 1954) 🇺🇸
- The Burmese Harp (Kon Ichikawa, 1956) 🇯🇵
III. PHIM NGHỆ THUẬT QUAN TRỌNG
- 2001: A Space Odyssey (Stanley Kubrick, 1968) 🇬🇧 🇺🇸
- La Strada (Federico Fellini, 1954) 🇮🇹
- Citizen Kane (Orson Welles, 1941) 🇺🇸
- Metropolis (Fritz Lang, 1927) 🇩🇪
- Modern Times (Charlie Chaplin, 1936) 🇺🇸
- Napoléon (Abel Gance, 1927) 🇮🇹
- 8½ (Federico Fellini, 1963) 🇮🇹
- La Grande Illusion (Jean Renoir, 1937) 🇫🇷
- Nosferatu (F. W. Murnau, 1922) 🇩🇪
- Stagecoach (John Ford, 1939) 🇺🇸
- The Leopard (Luchino Visconti, 1963) 🇮🇹 🇫🇷
- Fantasia (Walt Disney Productions, 1940) 🇺🇸
- The Wizard of Oz (Victor Fleming, 1939) 🇺🇸
- The Lavender Hill Mob (Charles Crichton, 1951) 🇬🇧
- Little Women (George Cukor, 1933) 🇺🇸
Lý do cho việc chia thành ba hạng mục cũng là cách để Giáo hội tôn vinh cả những tác phẩm không lấy chủ đề chính là đức tin Kitô giáo như phim hài, phim cao bồi viễn Tây, kinh dị, thể thao, thậm chí cả 2001: A Space Odyssey - bộ phim dựa theo thuyết tiến hóa không hề phù hợp với đức tin tôn giáo - cũng được tôn vinh như một tác phẩm có giá trị nghệ thuật quan trọng. Cũng như The Gospel According To St. Matthew (1964) của Pier Paolo Pasolini, một đạo diễn Marxist khét tiếng.
Sự cởi mở này phản ánh quan điểm mà Đức Giáo hoàng đã nêu: “Những góc nhìn tổng thể của Giáo hội về loại hình nghệ thuật này, cũng như mọi nghệ thuật chân chính khác, là tích cực và đầy hy vọng. Những kiệt tác điện ảnh có thể trở thành những thách thức sâu sắc đối với tinh thần con người, có khả năng đào sâu những vấn đề có ý nghĩa lớn về mặt đạo đức và tâm linh.”
Từ phát biểu đó, ta có thể thấy tính cởi mở của Vatican trong việc công nhận những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và nhân văn cao, kể cả trong bối cảnh thế tục. Việc chỉ giới hạn trong 45 phim vừa đủ để khiến danh sách trở nên quý giá, vừa không khiến cho nghệ thuật bị đưa vào thế đối chọi hơn thua - một kiểu bảng xếp hạng vốn không thường được giới nghiên cứu phim dành nhiều sự tôn trọng. Theo một góc nhìn nào đó, danh sách này làm ta hiểu phần nào những giá trị cấu thành nên Giáo hội Công giáo thời bấy giờ.
Tất nhiên, Đức Thánh Cha cũng đưa ra một lời cảnh báo: “Đáng tiếc là một số tác phẩm điện ảnh xứng đáng bị phê phán, thậm chí phê phán nghiêm khắc - khi chúng bóp méo sự thật, áp bức tự do đích thực, hoặc thể hiện tình dục và bạo lực xúc phạm đến phẩm giá con người.”
Sự thận trọng đạo đức này cũng thể hiện trong lựa chọn của danh sách. Chẳng hạn, D. W. Griffith được vinh danh với bộ phim Intolerance (1916), thay vì The Birth of a Nation (1915) - một tác phẩm quan trọng trong lịch sử phát triển của điện ảnh nhưng lại gây tranh cãi ở mặt xã hội vì nội dung mang tính phân biệt chủng tộc nặng nề. Dù chắc chắn là một bộ phim quan trọng, The Birth of a Nation lại “xứng đáng bị phê phán” vì “bóp méo sự thật” và “áp bức tự do”, theo lời của Đức Thánh Cha.
Danh sách đề cao sự tiết chế trong bạo lực và tình dục, nhưng không loại bỏ hoàn toàn chúng. Những yếu tố này vẫn xuất hiện, song luôn được kiểm soát chừng mực, tạo nên khác biệt với các tác phẩm kém giá trị về đạo đức.
Cũng cần lưu ý, những bộ phim trong hạng mục “Values” có giá trị đạo đức đặc biệt, nhưng không vì thế mà hoàn hảo về mọi mặt. Tương tự, các phim trong hạng mục “Art” không được chọn vì quan điểm tôn giáo hay đạo đức, mà vì giá trị điện ảnh.
Để kết bài, tôi xin trích một câu được Giáo hoàng Gioan Phaolô II viết trong Thư gửi các nghệ sĩ (Letter to Artists): “Ngay cả khi những người nghệ sĩ đặt chân vào những góc tối sâu thẳm nhất của tâm hồn hay những khía cạnh đáng lên án nhất của cái ác, họ vẫn tìm được cách cất lên tiếng nói cho khát vọng được cứu chuộc của nhân loại.”
Bài viết được tham khảo và lược dịch từ
- The Vatican Film List (viết bởi SDG trên DecentFilms)
- Some Important Films For the 100th Anniversary of Cinema. của @thefilmpope
- The Vatican Actually Has a Great Film List (viết bởi Henry Hanna trên Brown Film Magazine
Ủng hộ All About Movies
Đóng góp cho các tay viết của AMO
hàng tháng
chỉ từ 10K VNĐ