phim Việt Nam
Con Kể Ba Nghe (2026) - Điện Ảnh Việt và thứ "căn bệnh kinh niên"
Người viết: Nguyễn Phan Thái Vũ
Con Kể Ba Nghe đặt trọng tâm vào mối quan hệ cha con giữa ông Thái (Kiều Minh Tuấn) - một nghệ sĩ xiếc đi dây - và bé Minh (Hạo Khang), cậu con trai đang chìm trong trầm cảm. Không nhiều tác phẩm điện ảnh lựa chọn thế giới xiếc làm bối cảnh trung tâm, nơi mỗi đêm biểu diễn đồng nghĩa với việc đánh cược tính mạng để đổi lấy tiếng vỗ tay của khán giả. Chính nghề nghiệp đầy rủi ro ấy đã trở thành một ẩn dụ thuyết phục cho mối quan hệ cha con mong manh, căng thẳng và luôn đứng bên bờ đổ vỡ của gia đình ông Thái. Với tôi, đây là điểm sáng và đáng trân trọng của bộ phim. Ở vài khoảnh khắc, Con Kể Ba Nghe thậm chí gợi tôi nhớ đến tinh thần của những nhà làm phim lớn từng say mê sân khấu và trình diễn như Fellini hay Chaplin.
Đáng ghi nhận hơn, Con Kể Ba Nghe thuộc số hiếm phim thương mại Việt mà đạo diễn (Đỗ Quốc Trung) thực sự thực hiện tốt ngôn ngữ hình ảnh. Góc máy, ánh sáng, thiết kế không gian sân khấu xiếc đều được sử dụng hợp lý, có chủ ý. Những mảng miếng hài hước thì nên được tiết chế sao cho duyên thêm chút nữa. Nhưng ở phân đoạn ông Thái trong cơn chửi mắng giận dữ, đã cầm tông đơ cạo trọc đầu con trai, rồi sau đó tự cạo trọc đầu mình, là một quyết định dàn dựng dũng cảm khi được thể hiện bằng một cú long shot trọn vẹn và ám ảnh. Không ngoa khi nói đây sẽ là một vai diễn quan trọng, thậm chí mang tính bước ngoặt trong sự nghiệp của Kiều Minh Tuấn.
Đáng tiếc thay, Con Kể Ba Nghe vẫn còn nhiều lỗ hổng cần được giải quyết. Kịch bản vẫn còn lỏng lẻo, thiếu sự chặt chẽ những lúc cần thiết. Chủ đề trầm cảm được khai thác khá hời hợt, thậm chí có phần nguy hiểm, khi sau bộ phim này, khán giả Việt có lẽ sẽ càng thêm hiểu lầm và ác cảm với ngành tâm lý học, chắc chắn là một cái lỗi không hề nhỏ của phim. Biên kịch còn bản năng, dẫn tới việc giới thiệu quá nhiều nhân vật tiềm năng nhưng rồi bỏ lửng, không phát triển đến nơi đến chốn.
Vấn đề nghiêm trọng nhất nằm ở cách bộ phim tiếp cận tâm lý học trị liệu. Phim dường như vô tình củng cố một định kiến quen thuộc trong xã hội Việt Nam rằng tâm lý học là trò chơi của nhà giàu, xa rời thực tế, vô dụng, và chỉ dành cho các cô ấm, cậu ấm. Các yếu tố liên quan đến trị liệu tâm lý (nếu có) thì được xây dựng rất hời hợt, rất thiếu chuyên môn, và nhanh chóng bị gạt sang một bên để nhường chỗ cho những giải pháp rất cảm tính (và bản năng) của nhà làm phim, họ phải sử dụng bùng nổ cảm xúc, hòa giải bằng nước mắt, hoặc một khoảnh khắc “thức tỉnh” rất điện ảnh (nhưng là một thứ điện ảnh lỗi thời). Điều này rất nguy hiểm, bởi nó khiến khán giả dễ tin rằng trầm cảm có thể được chữa lành chỉ bằng một cú sốc cảm xúc hoặc một hành động yêu thương mang tính biểu tượng.
Trong khi đó, trầm cảm ngoài đời thực hiếm khi vận hành như vậy. Nó là một quá trình dài, phức tạp, nhiều khi lặp đi lặp lại, và thường sẽ không có cao trào rõ ràng. Việc phim rút gọn quá mức hành trình tâm lý của cậu con khiến câu chuyện trở nên dễ xem, nhưng đánh đổi bằng sự trung thực với những trải nghiệm tâm lý. Đây là điểm chắc chắn sẽ khiến những người đang thực hành tâm lý, hoặc những người từng gặp chấn thương tâm lý cảm thấy nản lòng.
Nói cho công bằng, Con Kể Ba Nghe vẫn có những khoảnh khắc chạm tới nỗi cô độc phổ biến của người trẻ hiện đại, một cảm giác không thuộc về đâu cả, bị kẹt giữa kỳ vọng của gia đình và sự rỗng tuếch của bản chất hiện sinh. Nhưng những khoảnh khắc ấy trôi qua quá nhanh, không đủ thời gian để lắng lại trong tâm trí khán giả. Trầm cảm, rốt cuộc, vẫn chỉ là một plot device trong cấu trúc kịch bản của phim, chứ chưa được kịch bản nhìn nhận là một thực tại sống như nhân vật.
Âm nhạc là một nỗi thất vọng khác, thậm chí là thảm họa, dù không bất ngờ. Có những lúc tôi ước gì loa rạp bỗng dưng hỏng, để có thể tự huyễn hoặc rằng với những khuôn hình đẹp như vậy, phần âm thanh hẳn cũng phải du dương, phải thơ ca lắm. Nhưng không. Nhạc phim tệ đến mức khiến người ta mệt mỏi, và đáng buồn hơn, nó mang đúng căn bệnh kinh niên của phim thương mại Việt, là thứ nhạc nền vô hồn, na ná nhạc free trên Epidemic Sound. Trong khi ai cũng biết, âm nhạc không phải trò đùa, nó là linh hồn của bộ phim. Chỉ một lớp âm thanh mỏng manh thôi cũng đủ tác động mạnh mẽ lên não bộ khán giả, thậm chí có thể khiến người ta mê mẩn mà bỏ qua mọi khiếm khuyết khác của bộ phim.
Ở Con Kể Ba Nghe, nhạc nền xuất hiện với tần suất dày, gần như không cho phép hình ảnh được tồn tại như chính nó. Nhạc nền thay vì bổ sung tầng nghĩa câu chuyện, lại thường xuyên làm nhiệm vụ “báo trước cảm xúc”, buồn thì nhạc buồn, căng thẳng thì nhạc dồn dập, xúc động thì nhạc trào lên. Cách sử dụng này phản ánh một sự thiếu tin tưởng vào sức mạnh nội tại của hình ảnh và diễn xuất nơi đạo diễn và ekip, như thể khán giả luôn cần được chỉ dẫn phải cảm thấy gì ở từng phân cảnh, điều này, theo một cách nào đó, cũng là đánh giá hơi thấp khả năng tiếp nhận và phản tư của chính khán giả.
Tôi nghĩ, với những khuôn hình đã được dàn dựng chỉn chu, bộ phim hoàn toàn có cơ hội để khai thác sự im lặng như một lựa chọn âm nhạc. Im lặng, trong nhiều trường hợp chính là âm thanh trung thực nhất của cô đơn, bế tắc và trầm cảm. Nhưng sự im lặng ấy hiếm khi được trao cơ hội. Mỗi khoảng trống tiềm năng trong phim đều nhanh chóng bị lấp đầy bởi thứ nhạc nền rất rẻ tiền, khiến cảm xúc không kịp hình thành đã bị dẫn dắt sẵn.
Chẳng nói đâu xa, đạo diễn Đỗ Quốc Trung hơn một chục năm trước, đã từng sử dụng sự im lặng ấy trong một phân cảnh nhiều sức nặng nhất của phim ngắn “Trực Nhật Với Thư Kỳ”. Đó là một bộ phim thanh xuân vườn trường thú vị vô cùng. Âm nhạc được sử dụng tinh tế, câu thoại hoặc câu đùa cũng đều được thả đầy duyên dáng. Giống với bé Minh của Con Kể Ba Nghe, phim ngắn năm ấy cũng khắc họa một nhân vật Phong (do anh Hoàng Hà thủ vai) trầm lặng, đầy suy tư cá nhân, và lạc lõng trong một ngôi trường đầy những lời ra tiếng vào. Ấy vậy nhưng, đặt hai tác phẩm cạnh nhau, chính bộ phim ngắn năm xưa lại để lại dấu ấn rõ nét hơn về phong cách kể chuyện. Có lẽ, cú chạm đầu tiên với điện ảnh thương mại đã mang đến không ít bỡ ngỡ, khiến một phần những tư duy sắc bén về ngôn ngữ điện ảnh của Đỗ Quốc Trung bị phân tán, thậm chí thất lạc.
Và như một “quy luật bất thành văn” của phim thương mại Việt, càng về cuối phim, ta lại được chiêu đãi một bài soundtrack chính của phim, bài nhạc được đầu tư nhất, được xem như chiếc phao cứu sinh cho mặt trận truyền thông. Bài nhạc vang lên trọn vẹn như một MV, kèm theo hàng loạt hình ảnh hồi tưởng xúc động giữa các nhân vật chính - ở đây là hành trình nuôi dạy con đầy tổn thương của ông Thái và những ký ức không thể xóa nhòa giữa hai cha con. Một công thức quen thuộc, an toàn, và đáng tiếc là quá dễ đoán. Vì thế nên hỡi các nhà làm phim, làm ơn hãy dừng cái công thức đấy lại và thử các cách khác đi.
Tôi biết anh Đỗ Quốc Trung là một đạo diễn có tài, phim điện ảnh đầu tay của anh chắc chắn sẽ để lại những dấu ấn đáng nhớ với khán giả đại chúng của Việt Nam. Dù nỗ lực lần là chưa đủ để có được sự bứt phá nghệ thuật, nhưng tương lai còn dài, đạo diễn trẻ Đỗ Quốc Trung vẫn sẽ là một cái tên mà chúng ta nên ghi nhớ và ngóng đợi vào những dự án sau này của anh.
Ủng hộ All About Movies
Đóng góp cho các tay viết của AMO
hàng tháng
chỉ từ 10K VNĐ