phân tích

VỀ CỔ ĐIỂN VÀ NHÂN VĂN TRONG ĐIỆN ẢNH ROB REINER

Người viết: Mai Thị Tâm Nguyên

img of VỀ CỔ ĐIỂN VÀ NHÂN VĂN TRONG ĐIỆN ẢNH ROB REINER

“KHI KỂ CHUYỆN, TA ĐÌNH CHỈ SỰ TÀN NHẪN”

“Chuyện xảy ra với Rob và Michele là điều vô luân, một hố thẳm trong thực tại sống. Thứ duy nhất sẽ giúp tôi chấp nhận điều này là sự trôi đi của thời gian.” – Martin Scorsese tưởng nhớ Rob Reiner, người bạn lâu năm của mình, trong một bài báo trên The New York Times. Ngày 14 tháng 12 năm 2025, đạo diễn Rob Reiner cùng vợ là Michele Singer Reiner bị sát hại tại nhà riêng. Cái chết vô luân ấy bất xứng với tất cả những nhân văn ông tạo dựng suốt một kiếp người với phim. Cùng với Reiner chết đi một thế hệ, một phong cách điện ảnh dịu dàng mang tên ông và cả sự hồn nhiên mang màu nước Mỹ.

Tôi đã xem Stand By Me ở tuổi mười ba khi tình yêu điện ảnh còn mới chớm và đó có lẽ cũng là độ tuổi hoàn hảo nhất cho một bộ phim như thế. Cả gia đình cùng ngước mắt lên màn hình vào một buổi tối bình yên. Bố tôi đã cười ở cảnh bọn trẻ lao xuống đầm lầy bị đỉa cắn và tôi nhớ ra hình như ông cũng đã có thời thiếu niên hoang dại như vậy rồi thầm nuối tiếc khi chỉ có thể cảm nó qua màn ảnh. Nhưng sự hao mòn của hồn nhiên lại phổ quát hơn. Mắt nai soi vào Gordie Lachance bên đường ray tàu hoả giống như sự ngây dại mẫn cảm sau cuối của thiếu thời đứng trước con đường đời gai góc trải dài đến về sau. Nhiều năm sau tôi vẫn không hiểu vì sao những khung hình về thị trấn Mỹ tiêu điều và hoang sơ lại có thể ma mị và sáng trong đến vậy, và không quên đã bàng hoàng ra sao khi biết River Phoenix đã sống không lâu sau Stand By Me, theo sau đó là cả một giai đoạn với những thần tượng yểu mệnh là James Dean, Corey Haim và Heath Ledger, tâm niệm rằng: “Ước mơ như thể đời ta là vĩnh viễn, và sống như thể cái chết sẽ đến ngày hôm nay.”

Stand By Me kéo theo nỗi ám ảnh về sự chia ly thời niên thiếu và nhiều tháng hè nơi con người cảm nhận một sức nặng da diết ở lồng ngực, hát nhẩm theo ca khúc cùng tên của Ben E. King. “And darlin’, darlin’, stand by me. Oh stand by me.” Đó là hạnh phúc pha lẫn hoài nhớ. Khi Stand by Me khép lại, lần đầu tiên tôi cảm thấy một niềm thôi thúc phải viết và biểu đạt. Có lẽ Reiner đã thật tin vào kể chuyện khi cho Gordie Lachance trở thành một nhà văn và cũng từ đó hình thành nơi tôi một niềm tin trong sáng vào ngôn từ. Niềm tin đã khiến tôi viết khi ấy và còn viết về sau. Cũng không lâu sau, chiếc máy tính hủi mà tôi dùng để soạn thảo chính thức chết hẳn, mang đi hết những trang viết của tuổi mười ba, nhưng không phiền muộn nào đọng lại bởi một phần ấy hẳn nhiên sẽ trường cửu dù tinh thần có đi bao xa. Giống như Susan Sontag đã viết trong The Decay of Cinema: “Đối với thế hệ khán giả đầu tiên trong lịch sử, thì tác phẩm “The Arrival of a Train at La Ciotat Station” của anh em nhà Lumiere – một bản sao y cuộc sống thực rất đỗi bình thường, lại là một trải nghiệm phi thường, tuyệt diệu. Điện ảnh được khởi nguồn từ cái “phi thường” ấy, từ cảm xúc ngỡ ngàng, ngạc nhiên rằng thực tế đời sống có thể được sao chép lại một cách tức thời như vậy. Toàn bộ tinh hoa điện ảnh đến mãi về sau là nỗ lực cố công để đem lại cảm xúc mê hoặc, ngỡ ngàng ban sơ ấy”, điện ảnh trong tôi về sau cũng là hồi quy cảm thức nguyên sơ khi Rhett Butler hôn Scarlett O’hara giữa lửa binh, khi The Tramp ứa nước mắt trước cô gái mù, khi Henry Hill ngắm nhìn thế giới tội phạm qua cửa sổ và Gordie Lachance bắt gặp mắt nai bên đường tàu – những khoảnh khắc con người gần nhất với phi lai và tình yêu.

Cổ điển của Rob Reiner nằm ở niềm tin nguyên sơ vào kể chuyện. Phim ảnh khi ấy trở thành công cụ ghi lại những gì đang tan rã. Một cái tên Mỹ cổ điển khác là Peter Bogdanovich. Nhưng ở Bogdanovich, ta tìm thấy sự uyên minh của cinephilia – tình yêu với điện ảnh như một đức tin, có thâm căn từ lục địa và sự oanh tạc của Làn Sóng Mới Pháp. Giống như cách François Truffaut khởi đầu từ một tín đồ điện ảnh để rồi trở thành đạo diễn và trong hành trình cầu đạo đã tái định vị Alfred Hitchcock bằng cuốn sách Hitchcock/Truffaut, Peter Bogdanovich theo một nghĩa nào đó cũng bước đi trên hành trình ấy. Ông là người lưu giữ ký ức của Old Hollywood bằng những cuộc phỏng vấn với Ford, Hawks, Lang,… rồi đem nỗi hoài niệm ấy vào chính những thước phim của mình. Còn với Rob Reiner, sự tri ân có lẽ không đặt ở những tượng đài mà ở chính con người, ở đời sống nơi ông mang nặng một tình yêu vô biên. Nước Mỹ của Bogdanovich hoang tàn, bơ vơ còn Rob Reiner trả lại cho nước Mỹ một kết cục có hậu. Chính cái viên mãn đã tạo nên tính đại chúng cho phim ông, nhưng dưới vẻ ngoài bình dân dễ cảm ấy ẩn chứa một giọng tác giả thật mong manh mà nếu nó đã lựa chọn một ngã rẽ khác gai góc, tinh tuyển hơn thì hẳn sẽ bị cười chê vì ngây dại. Nó mang niềm tin nguyên thuỷ vào cổ tích, rằng công chúa có thể yêu một chàng nông dân và “sống hạnh phúc đến mãi về sau” trong The Princess Bride (1987), và thế gian dẫu bất tín ra sao vẫn đáng được kể chuyện lại bằng lòng nhân từ. Nó tin vào một tình yêu mang dáng hình của tình bạn trong When Harry Met Sally… (1989) và cũng như Sontag viết về Robert Bresson, “Khoảnh khắc tình yêu được thổ lộ cũng là khi bộ phim kết thúc.”, Auld Lang Syne vang lên trong thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, Harry và Sally mới tỏ ngộ tình yêu trong mình, không khác một lời tri ân đến The Apartment (1960) của Billy Wilder.

Sẽ thật dư thừa nếu phân tích khiếu hài hước, nhưng không bao giờ là đủ nếu nói về sự thông thái trong những bộ phim của Rob Reiner. This Is Spinal Tap (1984) hiển lộ sâu sắc tinh thần phê phán cùng sự tinh vi của Reiner, và chính bộ rockumentary giả tài liệu này là nguồn cảm hứng cho The Decline of Western Civilization II: The Metal Years (1989) của Penelope Spheeris. The Metal Years kể câu chuyện khi làn sóng hard rock/heavy metal bước vào buổi hoàng hôn, rằng: “Không gì tồn tại vĩnh viễn, kể cả Metal Years. Một thập niên huy hoàng sắp khép lại, glam metal dần suy tàn, có những ước mơ viển vông của nhiều con người trẻ tuổi bị dập tắt. Ozzy Osbourne, Lemmy Kilmister, Alice Cooper hay Megadeth là những kẻ sống sót và tiếp tục bước đi trên con đường danh vọng.” Dẫu vậy, trước đó nửa thập niên, Rob Reiner đã tiên tri về mầm mống lụi tàn của một huyền thoại bấy giờ đang trên đỉnh cao. Vặn ampli lên mười một và bành trướng đến mức tự triệt tiêu chính mình, Rob Reiner châm biếm chính ảo tưởng về sự bất tử của rock, thế nhưng sự nhân hậu đã hoá hiện phê phán thành tiếng cười, và trả lại cho rock một thân phận trần thế: hữu hạn, phù phiếm và đáng thương. Cười ngay trong thời khắc huy hoàng. Cười như một kẻ yêu rock đủ đậm sâu để ôm lấy sự lố bịch và hư danh của nó. Tuổi mười bảy của tôi khi lần đầu xem This Is Spinal Tap đã chỉ xoay quanh rock, và This Is Spinal Tap là tất cả những gì thuộc về rock. Có điều gì đó ở Rob Reiner thật vừa vặn với tuổi trẻ, và nếu so sánh với một vị vua khác của tuổi trẻ là John Hughes, ta thấy Hughes mới là kẻ ảo mộng và hoài nhớ hơn cả Reiner. Bởi lẽ John Hughes mang niềm tin về tuổi trẻ như một bản thể, còn Rob Reiner tin yêu vào cả tiến trình của làm người. Cả thập niên 80 John Hughes đã lý tưởng hoá tuổi trẻ đến cùng cực còn bộ phim teen lạc loài của Reiner là The Sure Thing (1985), dẫu mang ngôn ngữ kể chuyện gần như John Hughes, lại trốn tránh mọi ảo vọng lớn lao kiểu Hughes.

Sự nhân văn của Rob Reiner có lẽ đã không thể bẻ cong vô thường, và niềm tin sáng trong vào luân lý ở những thước phim xưa kia đã không thể vần xoay kết cục vô luân của ông vào ngày cuối đời. Có lẽ sự suy tàn của một phong cách điện ảnh nhân hậu không cần đợi đạo diễn của nó ra đi thật sự mà chỉ tuyệt diệt khi giữa con người không còn yêu thương. Bất tín, cuồng tín nhưng thiếu vắng đức tin. Tại sao Stand By Me kết thúc khi Gordie Lachance viết xong câu chuyện thời niên thiếu, và The Princess Bride bắt đầu ở cảnh người ông đọc truyện cổ cho cháu trai? Bởi thế gian có thể tàn nhẫn, nhưng khi kể chuyện, ta đình chỉ sự tàn nhẫn ấy. Martin Scorsese viết: “Tưởng tượng … rằng rồi sẽ có một ngày, tôi ở trong một bữa tối hay một buổi tiệc nào đó và bỗng nhận ra mình được xếp ngồi cạnh Rob; tôi sẽ nghe tiếng cười của cậu ấy, nhìn thấy gương mặt phúc hậu rạng rỡ ấy, cười theo những câu chuyện của cậu và tận hưởng nhịp điệu hài hước tự nhiên nơi cậu, và thấy may mắn biết bao khi lần nữa có cậu là bạn.” – cùng những lời ấy là dòng tưởng tượng. Mơ mộng như trở về một buổi chiều xa xôi thời cấp hai và cô giáo tiếng Anh đã cho chúng tôi xem bộ phim mang màu nắng nước Mỹ về cô bé Julie Baker có tâm hồn đẹp như thể không thuộc về thế gian này, và trong ký ức tôi vẫn vang vọng tiếng cười của những người bạn học cũ. Tôi đã biết đến Rob Reiner như thế.


Ủng hộ All About Movies

Đóng góp cho các tay viết của AMO
hàng tháng chỉ từ 10K VNĐ

amo