phân tích
KOKUHO (2025) - MÃN NHÃN NHƯNG THIẾU CHIỀU SÂU
Người viết: Kopfkino
Được chuyển thể từ tác phẩm văn học nổi tiếng của Shuichi Yoshida, Kokuho (tựa Việt: Quốc Bảo) của đạo diễn Sang-il Lee ghi lại một cuộc hành trình dài năm mươi năm xuyên qua thế giới sân khấu Nhật Bản Kabuki vô cùng khép kín và cạnh tranh khốc liệt của hai nghệ sĩ là Kikuo Tachibana và Shunsuke Ogaki. Kể từ màn ra mắt hoành tráng tại chương trình Directors’ Fortnight ở Cannes vào mùa hè năm ngoái, tác phẩm đã vươn mình trở thành một bom tấn thương mại chưa từng có tại Nhật Bản, xô đổ các kỷ lục phòng vé nội địa với doanh thu gần một trăm triệu đô la và giành được một vị trí danh giá trong danh sách rút gọn của giải Oscar cho Phim quốc tế xuất sắc nhất.
Tuy nhiên, ẩn dưới những bộ trang phục lộng lẫy, thiết kế bối cảnh ấn tượng, và phần hình ảnh đẹp ngoạn mục lại là một tác phẩm điện ảnh đang phải vật lộn sâu sắc với chính cấu trúc kể chuyện của nó. Dù Kokuho hiện lên như một lời tri ân hoành tráng dành cho những tiêu chuẩn thẩm mỹ khắt khe của môn kịch truyền thống Nhật Bản, song, khi bộ phim bước qua hồi hai, nó dần bộc lộ ra những chật vật và khiếm khuyết trong việc cố gắng lột tả trọn vẹn những chiều sâu cảm xúc và sự phức tạp trong chủ đề mà nó đã mạnh dạn hướng tới.
Kabuki được sáng tạo bởi vu nữ Izumo no kuni thuộc đền Izumo, pha trộn giữa kịch Nou và Hu-ryu. Dù vậy vào năm 1629, Mạc phủ Tokugawa đã ra sắc lệnh cấm các nữ nghệ sĩ lên sân khấu với lý do kiềm chế vấn nạn suy đồi đạo đức. Loại hình sân khấu này đã thích ứng bằng cách đào tạo các nam diễn viên để hóa thân thành các nhân vật nữ, sinh ra vị trí Onnagata – tên gọi dùng để chỉ các diễn viên nam thủ vai nhân vật nữ trong kịch Kabuki.
Bộ phim mở bằng vào mùa đông giá lạnh năm 1964 tại Nagasaki. Ta được quan sát một cậu thiếu niên tỉ mỉ thoa lớp oshiroi – loại phấn nền màu trắng nhằm xóa bỏ lớp da và chi tiết khuôn mặt của diễn viên. Lớp phấn trắng như tuyết này mang tính tượng trưng, dùng để chôn vùi danh tính chân thực của người nghệ sĩ và thay thế nó bằng một “bức tranh” trống rỗng tự do phóng chiếu những nỗi đau đớn và sự ngây ngất đầy chất kịch tính của các thân phận nữ giới trong những vở kịch.
Chính đằng sau lớp mặt nạ nặng nề này, ta gặp gỡ nhân vật chính của phim là thiếu niên Kikuo Tachibana xuất thân từ một gia đình yakuza. Sau khi tận mắt chứng kiến người cha là trùm yakuza bị băng đảng khác sát hại ngay trước mắt, Kikuko đã vĩnh biệt cuộc sống cũng như con người cũ của cậu. Cậu xăm hình một con cú trải dài khắp lưng để luôn nhớ về nguồn gốc yakuza của gia đình, rồi đi tìm kiếm sự trả thù.
Cuộc đời cậu thay đổi hoàn toàn khi cậu được nhận nuôi bởi Hanjiro Hanai (Ken Watanabe thủ vai), một bậc thầy onnagata tại Osaka. Trong mắt ông, Kikuo tựa như một chiếc bình rỗng không đáy, mang một tiềm năng lớn – thứ có thể biến cậu thành một diễn viên Kabuki xuất chúng, hoặc có thể hủy hoại của cuộc đời cậu. Đây là thời khắc Kakuho từ bỏ quá khứ của một gia tộc yakuza để sống hòa mình với một gia tộc diễn kịch Kabuki.
Sự xung đột cốt lõi của Kokuho xoay quanh những hệ thống phân cấp xã hội cứng nhắc đang chi phối các bộ môn nghệ thuật cổ điển tại Nhật Bản. Ngay từ thời Mạc phủ Tokugawa, Kabuki đã bị giới tinh hoa thời bấy giờ độc chiếm, biến môn kịch nghệ từng phổ thông đến với mọi tầng lớp nhân dân trở thành một loại hình nghệ thuật-giải trí dành riêng cho giới quý tộc. Vì đó, Kabuki vận hành theo một cấu trúc gần giống như giới quý tộc phong kiến. Những nghệ sĩ đạt đến đỉnh cao danh vọng thường được chính phủ trao tặng danh hiệu “Quốc bảo sống”. Danh hiệu cao quý này cùng với nghệ danh sân khấu thường được truyền lại từ đời cha sang đời con trong nội tộc. Kikuo bước vào hệ sinh thái khép kín này với tư cách là một kẻ ngoại đạo. Cậu không hề có dòng máu trâm anh thế phiệt, vũ khí duy nhất của cậu là tài năng xuất chúng, nỗ lực bền bỉ, và niềm đam mê phi thường.
Nhân vật song hành cùng Kikuo trong chặng đường năm mươi năm này là Shunsuke Ogaki, người thừa kế hợp pháp của Hanjiro. Shunsuke là thế hệ tiếp theo của gia tộc Tanban-ya. Ban đầu, Shunsuke được khắc họa như một diễn viên Kabuki có phần ngạo mạn và ưa thích những thú vui phù phiếm hơn Kikuo. Cậu có thực lực và mang dòng máu của gia tộc Tanban-ya, nhưng chỉ như vậy là không đủ để cạnh tranh với tài năng hiếm có và đam mê thuần khiết của người anh em nuôi của mình.
Kikuo và Shunsuke gắn kết với nhau qua cả một tuổi trẻ cùng chung sống, tập luyện khắc nghiệt, và tranh đấu trên sân khấu. Họ thân thiết như hai người anh em ruột thịt, nhưng điều đó vẫn không thể xóa nhòa đi sự thật rằng chỉ Shunsuke mới mang dòng máu của môn nghệ thuật Kabuki, còn Kikuo, dù có cố gắng tới mấy, thì vẫn luôn là một kẻ ngoại tộc.
Khi câu chuyện bước sang giai đoạn trưởng thành của các nhân vật, sự cạnh tranh giữa họ ngày càng trở nên phức tạp hơn. Nam diễn viên Ryo Yoshizawa khắc họa một Kikuo phảng phất nét u sầu, bản ngã mờ nhạt và mang dáng dấp của một kẻ xa lạ không bao giờ thực sự hòa nhập vào những khuôn khổ truyền thống dẫu cho đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc. Đồng hành cùng anh là Ryusei Yokohama trong vai Shunsuke, người tỏa sáng bằng nguồn năng lượng hướng ngoại đầy thiện cảm của một chàng trai trẻ đang chật vật trốn chạy khỏi định mệnh bị áp đặt từ gia đình.
Mối quan hệ giữa hai người vượt ra ngoài những lằn ranh phân định anh hùng hay phản diện thông thường. Cùng nhau nếm trải quá trình huấn luyện khắc nghiệt dưới sự chỉ dẫn khắt khe của Hanjiro, sự gắn kết của họ đan xen giữa tình bằng hữu, sự ganh đua và cả niềm thấu cảm sâu sắc về tình cảnh bế tắc của đôi bên.
Thông qua mối quan hệ này, bộ phim khai thác những hy sinh đau đớn cần thiết để đạt đến sự hoàn mỹ trong nghệ thuật. Việc theo đuổi sự hoàn hảo trong Kokuho được mô tả là một quá trình bào mòn con người một cách khắc nghiệt. Để thực hiện những vũ đạo khắc họa chuẩn xác tâm lý và nội tâm phức tạp của các phận đời phụ nữ trong các vở kịch kinh điển, các nhân vật gần như phải vứt bỏ toàn bộ cuộc sống cá nhân và bản ngã của mình. Sân khấu từ đó biến thành một tấm gương phản chiếu những bi kịch thầm kín và những tâm hồn rạn nứt của chính người nghệ sĩ. Sự huy hoàng của một buổi biểu diễn Kabuki tỷ lệ thuận với nỗi đau mà người diễn viên phải gánh chịu. Kokuho đưa ra câu hỏi tiền đề hấp dẫn, đó là liệu thành tựu nghệ thuật đỉnh cao có đòi hỏi người nghệ sĩ phải hủy diện hoàn toàn bản ngã của họ hay không? Và họ cần phải hy sinh đến đâu đến đổi lấy danh hiệu ‘Quốc Bảo’?
Để phản ánh đúng xuất thân của nhân vật, chuyên gia trang điểm Naomi Hibino cùng đội ngũ hóa trang của Kokuho đã kết hợp các yếu tố lịch sử thời Edo nhằm tạo ra sự khác biệt tinh tế giữa hai nhân vật: Shunsuke mang vẻ ngoài rạng rỡ, trẻ trung của con nhà danh giá, trong khi Kikuo sở hữu nét đẹp tối giản với đuôi mắt được vẽ hơi cụp xuống. Màn hóa thân xuất thần của các “Quốc Bảo” tương lai trên sân khấu càng trở nên hoàn thiện khi lớp phấn nền trắng oshiroi truyền thống được tinh chỉnh để lên phim trông đẹp và thanh thoát hơn, kết hợp hài hòa cùng phấn mắt hồng, đường kẻ mắt đậm, chân mày ánh đỏ và đôi môi đỏ thẫm.
Đạo diễn Sang-il Lee đã kiến tạo nên một tác phẩm quy mô với thiết kế sản xuất vô cùng lộng lẫy. Dưới ống kính của nhà quay phim Sofian El Fani, màn ảnh ngập tràn những dải màu rực rỡ và ánh sáng rực rỡ của không gian sân khấu và nhà hát kịch truyền thống của Nhật. Tuy nhiên, càng đi sâu vào cách thức triển khai mối quan hệ đối đầu cốt lõi của phim, cốt truyện bộc lộ những khiếm khuyết. Đối với một câu chuyện dựa trên sự cọ xát giữa hai số phận trái ngược nhau, sự tương phản và xung đột giữa các cá nhân lại được xây dựng vô cùng hời hợt.
Phiên bản trưởng thành của hai nhân vật chính bộc lộ rõ sự thiếu hụt về chiều sâu tâm lý. Cuộc khủng hoảng niềm tin vào bản thân và quyết định biệt xứ của Shunsuke mang lại cảm giác khiên cưỡng, bởi kịch bản vốn dĩ khắc họa anh là một người khá thờ ơ với di sản gia tộc. Vì vậy, bước ngoặt này có phần giống một thủ pháp kể chuyện rập khuôn hơn là một bi kịch đủ mạnh để khiến người xem thật sự xót xa cho quyết định bỏ nhà ra đi của anh.
Về phần Kikuo, dù động lực vươn lên được xây dựng rõ nét hơn, quá trình thể hiện của Ryo Yoshizawa lại chưa đủ tinh tế để dẫn dắt một tác phẩm có sức nặng như Kokuho. Các lựa chọn biểu cảm của nam diễn viên khá dễ đoán với phân đoạn suy sụp trên sân thượng chính là minh chứng rõ nhất. Thay vì lột tả nội tâm rạn nứt của một nghệ sĩ rơi vào đáy của sự nghiệp, cảnh quay này sa đà vào những tiếng gào thét phô trương và hoàn toàn tách rời khỏi sự tuyệt vọng chân thật của con người.
Hơn thế nữa, nhịp độ kể chuyện đã gây tổn hại đến quá trình phát triển nhân vật. Sau khi thiết lập một cách kỹ lưỡng tình bạn gắn bó thời niên thiếu của họ, kịch bản đã hấp tấp lao thẳng về phía trước theo thời gian, hiếm khi cho phép khán giả chứng kiến sự tiến triển tinh tế trong mối quan hệ thời trưởng thành của họ bên ngoài khuôn viên nhà hát. Sự vội vã này đã cản trở việc phát triển mối quan hệ phức tạp, thứ vốn dĩ làm nâng tầm những câu chuyện xoay quanh sự ganh đua nghệ thuật kéo dài cả đời người. Sự căng thẳng sâu sắc trong mối quan hệ cùng sự đan xen tinh tế với lòng ghen tị, sự ngưỡng mộ và sự cống hiến thầm lặng mà khán giả luôn khao khát trong những bộ phim sử thi như vậy lại vắng bóng một cách rõ rệt.
Một khuyết điểm đáng lưu tâm nhất của Kokuho nằm ở cách bộ phim tiếp cận truyền thống onnagata chỉ mới ở trên bề mặt chứ chưa thật sự đào sâu vào loại hình diễn xuất phức tạp này. Trong những tác phẩm cùng thể loại như Bá Vương Biệt Cơ của đạo diễn Trần Khải Ca, việc khám phá hình ảnh nam giới hóa thân thành nữ giới đóng vai trò như một phương tiện để lên án những định kiến giới tính và các hệ thống gia trưởng mang tính áp bức. Là một bộ phim suýt bị cấm tại Trung Quốc, Bá Vương Biệt Cơ đã thấu hiểu rằng việc khắc họa và tôn vinh sự nữ tính là một hành động mang tính chính trị mạnh mẽ.
Ngược lại, Kokuho thể hiện sự thiếu quan tâm rõ rệt đối với bản chất thực sự của tính nữ và vai trò của họ trong bộ môn nghệ thuật Kabuki. Đạo diễn tập trung gần như hoàn toàn vào nỗi đau và nỗ lực của phái mạnh để đạt được khả năng hóa thân thành nhân vật nữ trên sân khấu. Tính nữ bị thu hẹp thành một món đồ trang sức lộng lẫy, một chướng ngại vật mang tính thẩm mỹ được thiết kế chỉ để thử thách giới hạn tham vọng của đàn ông. Bộ phim không có bất kỳ nỗ lực nào nhằm mục đích khám phá ý nghĩa của việc nội tâm hóa tinh thần nữ giới khi mà quá trình chuyển đổi này trong Kokuho chỉ được đơn thuần xem là một màn trình diễn tiêu tốn nhiều sức lực và tinh thần của các nhân vật nam.
Kokuho của Sang-il Lee chắc chắn là một bữa tiệc thị giác mãn nhãn với phần thiết kế sản xuất hoàn hảo và nỗ lực ghi lại bề mặt lịch sử của một di sản văn hóa quý giá của Nhật nhằm quảng bá rộng rãi đến thế giới. Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết sâu bên trong từng thước phim đẹp đó, tác phẩm dần bộc lộ nhiều khoảng trống lớn. Mối quan hệ đối đầu giữa các nhân vật thiếu chiều sâu cảm xúc, và sự gắn kết chủ đề hời hợt đã làm giảm đi giá trị tổng thể. Bộ phim tái tạo lại một cách tỉ mỉ chiếc mặt nạ lộng lẫy của nhà hát Kabuki, song, nó lại quên mất việc tìm kiếm một trái tim con người đang đập những nhịp đập phức tạp bên dưới lớp phấn trắng tinh khôi mỹ miều đó.
Ủng hộ All About Movies
Đóng góp cho các tay viết của AMO
hàng tháng
chỉ từ 10K VNĐ